Nhập Email của Bạn để nhận Tin Sinh Hoạt từ Tu Viện Kim Cang

TÌM KIẾM  

Tìm Theo


LỊCH SINH HOẠT SẮP TỚI

Bát Quan Trai: Vào ngày Saturday, 21 Tháng 4 Năm 2018 Âm Lịch: Lúc: 10:00am

Các Ngày Lễ, Sám Hối và Bát Quan Trai khác:
Sám Hối: Vào ngày:   Sunday 4/29/2018 Âm Lịch:
Sám Hối: Vào ngày:   Monday 5/14/2018 Âm Lịch:
Bát Quan Trai: Vào ngày:   Saturday 5/19/2018 Âm Lịch:


 BÀI HỌC CHO TUẦN NÀY
(Phật Học Phổ Thông Khóa thứ IV )

TỨ VÔ LƯỢNG TÂM


BỐN MÓN TÂM VÔ-LƯỢNG

 A.  MỞ-ÐỀ: 

            Ðứng về phương-diện tuyệt-đối, hay chơn-như môn, thì tâm của chúng-sinh hay tâm của Phật cũng vẫn là một, không có rộng hẹp, thấp cao, sai khác, ngăn cách. 

            Nhưng đứng về phương-diện tương-đối hay sinh-diệt môn, thì tâm có muôn hình vạn trạng, tùy theo chủng-tánh của chúng-sinh mà có cao thấp, rộng hẹp không đồng.  Hễ nghĩ đến tham, sân, si, mạn v.v… thì tâm trở thành nhỏ hẹp và bị quay-cuồng trong lục-đạo phàm-phu.  Còn làm theo lối Tứ-đế, Lục-độ v.v… thì tâm trở thành rộng lớn, và được giải-thoát lên đại-nhân, tứ-thánh.  Cũng là một thứ tâm, mà do chúng-sinh hay Phật xây-dựng mà có rộng hẹp, lớn bé, ngàn sai, muôn khác, cũng như cùng một thứ bột mà do người thợ làm bánh, khéo hay vụng mà có bánh ngon, bánh dở, bánh đẹp, bánh xấu, bánh lạt, bánh mặn v.v…  Cho nên Tôn-cảnh-Lục có chép: “Tâm tạo chư Phật, tâm tạo chúng-sinh, tâm tạo thiên-đường, tâm tạo địa-ngục.  Tâm vọng-động thì ngàn sự sai-biệt tranh khởi, tâm bình thì thế-giới thản-nhiên, tâm phàm thì ba món độc trói buộc, tâm thánh, thì sáu món thần-thông tự-tại, tâm không thì nhứt đạo thanh-tịnh, tâm hữu thì vạn cảnh tung-hoành.  Tự mình đạp mây mà uống nước cam-lồ, chẳng có ai cho mình.  Nằm trong lửa hừng mà uống máu-mủ cũng tự mình gây nên, không phải trời sanh ra, cũng không phải do đất mà có”. 

            Xem thế thì đủ biết tâm là động-lực chính để làm cho ta sướng hay khổ, vui hay buồn, trầm-luân hay giải-thoát. 

            Vậy muốn thoát khỏi khổ sanh-tử luân-hồi, muốn được quả-vị Thánh-nhân, Bồ-tát, chúng ta cần trau-dồi cho được một tâm vô cùng rộng lớn, một “vô-lượng-tâm”. 

B.  CHÁNH-ÐỀ: 

I.  ÐỊNH NGHĨA TÂM VÔ-LƯỢNG

             Vô-lượng là gì?  - Vô-lượng nghĩa là nhiều, rộng lớn, không thể lường tính được. 

            Tâm vô-lượng là tâm vô cùng rộng lớn, thoát ra khỏi sự ràng-buộc của các thứ phiền-não đê-hèn của phàm-phu, phá vỡ được các thứ quan-niệm chấp-trước hẹp-hòi của Nhị-thừa, là tâm có một vùng thương-yêu rộng lớn có thể bao trùm đến vô-lượng chúng-sinh, và tìm phương cứu khổ cho tất cả.  Vô-lượng-tâm cũng có nghĩa là “đẳng tâm”, cái tâm bình-đẳng, phổ-biến; bình-đẳng, vì tầm này chỉ tự-nhiên, không phân-biệt so-đo thấp cao, hơn kém; phổ-biến, bởi nó trang-trải mọi nơi chẳng khu biệt, giới hạn. 

            Và dĩ-nhiên, nhân nào quả nấy: do thi-hành bình-đẳng, phổ lợi cho vô-lượng chúng-sinh, nên chi tâm này còn có công-năng dẫn sinh vô-lượng phước đức, làm cho sự-kiện căn-bản để cảm thành vô-lượng quả-báo tốt đẹp, ấy là quả-vị Bồ-tát và Phật-đà. 

            Hơn nữa, tâm nầy không những làm lợi-ích cho vô-lượng chúng-sinh, dẫn sinh vô-lượng phước đức, và tạo thành vô-lượng quả vị tốt đẹp trong một thế-giới và trong một đời, mà còn lan rộng ra đến vô-lượng thế-giới trong vô-lượng kiếp sau này, và tạo thành vô-lượng chư Phật. 

            Tóm lại, chữ vô-lượng ở đây hàm nhiều nghĩa, vô-lượng nhân lành, vô-lượng quả đẹp, vô-lượng chúng-sinh, vô-lượng thế-giới, vô-lượng đời kiếp, vô-lượng chư Phật và Bồ-tát. 

II.  THÀNH-PHẦN VÀ HÀNH-TƯỚNG CỦA BỐN MÓN TÂM VÔ-LƯỢNG

             Tâm vô-lượng gồm có bốn phần là: bi vô-lượng, từ vô-lượng, hỷ vô-lượng và xả vô-lượng. 

            1.  Bi vô-lượng. 

            Bi là lòng thương xót rộng lớn trước những nỗi đau-khổ của chúng-sinh, và quyết tâm làm cho dứt trừ những đau-khổ ấy.  Như chúng ta đã học trong khóa thứ ba nói về Tứ-đế, cái khổ của chúng-sinh thật là mênh-mông, rộng lớn không thể nói hết.  Nó bao trùm cả nhân lẫn quả, cả thời-gian lẫn không-gian, cả phàm lẫn thánh, thật đúng là vô-lượng khổ. 

            Khổ nằm trong nhân.   

- Trong các kinh-điển thường có câu: “Bồ-tát sợ nhân, chúng-sinh sợ quả”.  Chúng-sinh vì không sáng-suốt cho nên chỉ khi nào quả khổ hiện ra mới lo sợ, chứ trong khi đang gây nhân khổ thì lại không nhận thấy, mà vẫn cứ thản-nhiên như không.  Họ đang sống trong cảnh khổ mà họ không biết, nhiều khi lại cho là vui.  Họ hoan-hô tán-thán và khuyến-khích nhau gây khổ mà cứ tưởng là vui, như những đứa trẻ quẹt diêm quăng lên mái nhà lá, rồi vỗ tay reo mừng với nhau.  Vì thiếu sáng-suốt cho nên đôi khi họ gây khổ để cứu khổ, chẳng khác gì làm cho đỡ khát bằng cách uống nước mặn. 

Khổ nằm trong quả.   

- Ðã gây nhân khổ, thì tất phải chịu quả khổ, đó là lẽ tất-nhiên.  Có ai trồng khoai mà được đậu bao giờ?  Thế mà người đời ít ai chịu công-nhận như thế.  Người ta oán trời trách đất, rên khóc thảm-thiết, làm cho cõi đời đã đen-tối lại càng đen-tối thêm, cuộc sống đã khổ-sở lại càng khổ-sở thêm. 

Khổ bao trùm cả thời-gian.   

- Từ vô-thỉ đến nay, cái khổ chưa bao giờ dứt, mà cứ chồng thêm lên mãi.  Nó gây nhân rồi lại kết quả, kết quả rồi lại gây nhân, cứ thế tiếp-tục mãi trong một vòng lẫn quẩn, như bánh xe lăn tròn trên đường thiên-lý, không bao giờ dừng nghỉ. 

Khổ bao trùm cả không-gian.

 - Cái khổ không có phương sở và quốc-độ; ở đâu có vô-minh thì ở đó có khổ!  Mà vô-minh thì như một tấm màn vô-tận, bao-trùm không chỉ một thế-giới này, mà còn vô số, vô lượng thế-giới khác nữa.  Khoảng không-gian mênh-mông vô-tận như thế nào, thì nỗi khổ-đau cũng mênh-mông vô-tận như thế này. 

Khổ chi-phối cả phàm lẫn thánh. 

- Chúng-sinh ở địa-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh đã đành là khổ vô cùng, loài người vì say đắm ngũ dục-lạc, và bị tham, sân, si chi-phối, nên cũng vẫn quay cuồng lặn hụp trong biển khổ, còn chư thiên mặc dù không khổ như người nhưng cũng không tránh được cái khổ vì ngũ-suy tướng hiện.  Cho đến các hàng thánh như Thanh-văn, Duyên-giác, vì còn mê pháp, trụ trước Niết-bàn, nên cũng không tránh khỏi nỗi khổ biến-dịch sanh-tử.  Xem thế đủ biết nỗi khổ thật là lớn lao vô lượng.  Có được một lòng thương xót lớn-lao vô-lượng cân xứng với nỗi đau khổ vô-lượng và có một chí nguyện cứu độ tất cả thoát khỏi nỗi đau khổ vô-lượng, ấy là tâm Bi vô lượng. 

            Các vị Bồ-tát nhờ có lòng đại-bi nên đã phát tâm Bồ-đề rộng lớn, thệ-nguyện độ khắp tất cả.  Các Ngài nhận thấy mình có sứ-mạng ra vào trong sanh-tủ để hóa-độ chúng-sinh, nên không chấp trệ ở Niết-bàn.  Sứ-mạng chính của các Ngài là gần-gũi chúng-sanh để: 

            -  Làm cho chúng-sinh nhận được mặt thật của cõi đời, rõ thế nào là tà chánh, là khổ là vui.           

            -  Làm cho chúng-sinh nhận rõ được thân-phận của mình mà thôi làm các điều ác, chừa các điều tội lỗi. 

            Xem như thế đủ biết lòng đại-bi chính là động-lực chánh để đi đến quả-vị Bồ-tát và Phật.  Trong Ðại-hội Hoa-nghiêm, đức Bồ-tát Phổ-Hiền cũng đã tự nhận và nói như thế này: “Nhơn vì chúng-sinh mà khởi lòng đại-bi.  Nhơn lòng đại-bi mà phát tâm Bồ-đề.  Nhơn phát tâm Bồ-đề tiến thành ngôi Chánh-giác”. 

            Câu nói của Ngài Phổ-Hiền đã rõ-ràng, không còn nghi ngờ gì nữa.  Phật đã dạy: “Hạt giống Bồ-đề, không thể gieo trên hư-không, chỉ trồng trên đất chúng-sinh mà thôi”.  Vậy, chúng ta là Phật-tử, muốn tu Bồ-tát hạnh, tất phải mở rộng lòng Bi, thương xót tất cả, không phân chia nhân, ngã, bỉ, thử, và phải phát nguyện độ khắp tất cả, nghĩa là phải tu luyện cho có được một lòng Bi vô-lượng. 

            2.  Từ vô-lượng. 

            Từ là mến thương và vì mến thương mà gây tạo cái vui cho người.  Từ vô-lượng là lòng mến thương vô cùng rộng lớn, đối với toàn-thể chúng-sinh, và gây tạo cho chúng-sinh cái vui chân-thật. 

            Vui của thế-gian sở-dĩ gọi là vui giả tạm, vì cái vui ấy không bền, cái vui ấy còn bị phiền-nào chi-phối: khi tham, sân, si, mạn được thỏa-mãn thì vui, nhưng có bao giờ những thứ dục-vọng ấy có thể thỏa-mãn được hoàn-toàn và lâu bền đâu? 

            Còn vui xuất-thế-gian là cái vui chân-thật, vì nó lâu bền, thoát ra ngoài vòng phiền-não của tham, sân, si, mạn; nó không bị dục-vọng chi phối.  Cái vui này không ồn ào, sôi-nổi, nhưng vĩnh-viễn nhẹ-nhàng, vì là cái vui của cảnh-giới giải-thoát siêu phàm… 

            Muốn có được cái vui này, thì trước tiên phải dứt cho hết các khổ do phiền-não gây ra.  Nếu không ngăn-chận được tham, sân, si hoành hành, thì chỉ có thể có được một cái vui nhất thời giả dối. 

            Bởi thế, các vị Bồ-tát muốn ban vui cho chúng-sinh, thì trước tiên phải có lòng từ-bi vô-lượng như đã nói trên, để luôn luôn răn chắc chúng-sinh đừng gây tội, dìu-dắt chúng-sinh tránh xa những hố hầm nguy-hiểm. 

            Qua các giai-đoạn đầu tiên ấy rồi, các Ngài mới hướng-dẫn chúng-sinh đi lên con đường sáng để đến điạ-vị giải-thoát mà hưởng cái vui vĩnh-viễn.  Nói một cách rõ-ràng hơn là lòng Từ phải đi theo lòng Bi: Bi để chỉ nguyên-nhân của đau-khổ và khuyên-bảo chúng-sinh đừng gây nhân khổ; Từ để chỉ rõ phương-pháp diệt khổ và được vui. 

            Tỷ-dụ khi Bồ-tát muốn cho chúng-sinh hưởng cảnh Niết-bàn, thì trước hết các Ngài chỉ cho biết thế nào là khổ (khổ-đế) và đâu là nhơn của khổ (tập-đế), sau mới chỉ cho thấy cái vui Niết-bàn như thế nào (diệt-đế) và đưa ra phương-pháp để đoạn khổ (đạo-đế).  Nếu chúng-sinh y theo lời dạy của các Ngài mà thi hành, thì cái vui Niết-bàn sẽ xuất-hiện.  Như thế, động-lực dạy cho chúng-sinh biết khổ-đế và tập-đế là Bi, còn động-lực dạy cho chúng-sinh biết diệt-đế và đạo-đế là Từ. 

            Nhưng nỗi khổ của chúng-sinh đã là vô-lượng, lòng Bi đã là vô-lượng, thì lòng Từ cũng phải như thế.  Muốn thành-tựu tâm Từ này, Bồ-tát phải dùng đủ phương-tiện để làm lợi-lạc cho chúng-sinh.  Tựu trung, có hai điểm quan-trọng sau đây mà Bồ-tát không thể bỏ qua trong khi hóa-độ chúng-sinh là: Tùy cơ và tùy thời.   

Tùy cơ.

 -  Nghĩa là quan-sát trình-độ, căn-bản của chúng-sinh như thế nào rồi tùy theo đó mà dạy bảo.  Tâm bịnh của chúng-sinh vô-lượng, nên thuốc pháp của Bồ-tát cũng vô-lượng.  Nhưng chính vì bệnh vô-lượng mà thuốc cũng vô-lượng, nên cho thuốc đứng với bệnh là một điều mà chỉ có các vị lương-y đại-tài như Hoa-Ðà, Biển-Thước mới làm được. 

Các vị Bồ-tát sở-dĩ hóa-độ được nhiều chúng-sinh là nhờ, ngoài trí huệ sáng-suốt, còn có một tâm Từ vô-lượng, không quản khó-khăn, không ngại gian-nguy, một lòng kiên-nhẫn vô-biên như lòng kiên-nhẫn của người mẹ đối với con, quyết tâm tác thành cho con nên người mới thôi.  Nếu không có được trí-huệ, chí kiên-nhẫn và nhất là lòng từ-bi vô-lượng như các vị Bồ-tát, thì khó tránh khỏi cái nạn thối-chuyển vì trần-sa-hoặc. 

Dưới đây là một đoạn văn trong kinh Hoa-Nghiêm có thể chứng-minh một cách hùng-hồn là Từ vô-lượng của đức Phổ-Hiền: 

“…  Hằng thuận chúng-sinh là như thế nào?  -  Nghĩa là có bao nhiêu chúng-sinh ở cõi nước mười phương trong cả pháp-giới hư-không… tôi đều tùy-thuận mà chuyển mọi thứ thừa sự mọi cách cúng-dường, như kính cha mẹ, như phụng-sự sư-trưởng và A-la-hán, cho đến bực Như-Lai đều đồng không khác.  Với kẻ bịnh khổ thì làm lương-y cho họ, với kẻ lạc đường, chỉ lối thẳng cho họ, với kẻ trong đêm tối, làm cho họ được sáng lên và với kẻ nghèo cùng, khiến cho họ được gặp của…  Bồ-tát làm lợi-ích bình-đẳng với tất cả chúng-sinh như thế là vì Bồ-tát nhận thấy rằng tùy-thuận chúng-sinh tức là tùy-thuận cúng-dường chư Phật, nên tôn-trọng thừa-sự chúng-sinh, tức là tôn-trọng thừa-sự Như-Lai…” 

Tùy thời. 

-  Tức là thích-ứng với thời-đại, với giai-đoạn mà hóa-độ chúng-sinh.  Thời-gian xoay vần, cuộc thế biến-chuyển mỗi khi một khác.  Thời-tiết có khi mưa, khi nắng, thay đổi theo bốn mùa, thì lòng người cũng có khi thích cái này khi ưa cái khác.  Nếu phương-pháp hóa-độ không biến-chuyển, không thay-đổi để cho thích nghi với hoàn-cảnh, với giai-đoạn thì phương-pháp dù hay-ho bao-nhiêu, cũng chẳng thu được kết-quả gì tốt-đẹp.  Bồ-tát hiểu rõ như thế, nên khi chỉ dạy chúng-sinh cũng phải theo thời thế, biết khi nào là tượng-pháp, khi nào là mạt-pháp để cho giáo-pháp được thích hợp với căn-cơ. 

Tóm lại, muốn hóa-độ chúng-sinh một cách có hiệu-quả thì Bồ-tát bao giờ cũng không quên hai điều chính là tùy-cơ và tùy-thời.  Kinh “Tâm-Ðịa Quán” cũng có dạy: 

“Các đức Phật chuyển pháp-luân, vẫn tùy cơ mà nói pháp, bao-giờ cũng tránh bốn điều sai-lạc: một là nói không phải chỗ; hai là nói không phải thời; ba là nói không phải căn-cơ; bốn là nói không phải pháp”. 

Bởi những lẽ trên nên Bồ-tát trong lúc hóa-độ, khi thì hiện thân, khi thì ẩn thân, lúc làm thuận hạnh, lúc lại nghịch hạnh, khi dùng oai dũng, lúc lại từ-hòa.  Công-hạnh của Bồ-tát sai khác nhiều đến vô-lượng, nhưng chỉ phát-sinh từ một ý duy-nhất là tạo cái vui chân-thật cho chúng-sinh. 

Nên nhớ “tạo cái vui chân-thật” ở đây, không có nghĩa là tạo ra cảnh-giới thiên-đàng, hay cảnh-giới cực-lạc để cho những chúng-sinh thân-yêu của mình vào hưởng, như người ta ban phép lạ, mà chỉ có nghĩa là tạo cho chúng-sinh cái mầm an vui chân-thật bằng cách thức-tỉnh, dắt-dẫn chúng-sinh tránh các điều dữ làm các việc lành một cách tích-cực mạnh-mẽ, cho đến khi cái mầm vui, nhờ hành-động lành ấy mà kết thành quả vui mới thôi. 

Ðấy, lòng Từ vô-lượng như thế.  Như trên đã nói Từ phải đi theo với Bi.  Nếu chỉ có Bi không, thì đại-nguyện của Bồ-tát chưa thành, vì mới chỉ cứu khổ, chứ chưa ban vui.  Chúng ta là Phật-tử, muốn tu hạnh Bồ-tát, phải luyện tập cho lòng Từ mở rộng, mở rộng mãi cho đến vô-lượng vô-biên. 

            3.  Hỷ vô-lượng. 

            Hỷ là gì?  -  Nói cho đúng là tùy-hỷ, nghĩa là “vui theo”.  “Vui theo” có nhiều cách: 

            -  Vui theo ác nghiệp, như khi thấy một người sát sanh, uống rượu, trộm cướp… đáng lẽ ta nên khuyên-can mà lại không, còng bằng lòng theo họ đi vào con đường ác.  Sự vui theo ở đây có nghĩa là khuyến-khích đồng-lõa với kẻ ác vậy. 

            -  Vui theo những việc nhơn-từ phước thiện, như khi thấy người đem của ra bố-thí, lập nhà thương, ta tán-thành, giúp-đỡ vui theo với công việc của họ.  Sự vui theo này là một bước tiến đi đến con đường thiện-nghiệp.  Tuy thế, ta nên phân-biệt hai trường-hợp:  Nếu lòng mình cùng muốn làm thiện, nên khi thấy người khác làm thì mình hoan-hỷ tán-thành, đó là trường-hợp tốt sẽ được nhiều phước-báo, còn nếu không vì lòng thiện, nhưng vì thấy người làm thiện được người ta ca tụng, danh-tiếng vang-lừng mà mình cùng hùa theo tán-thành, giúp-đỡ để được tiếng khen lây, thì không khép chỉ gây thêm ngã-ái, ngã-mạn. 

            -  Khác với những lối vui trên, là những lối vui tầm-thường của thế-gian, hàng Nhị-thừa chỉ vui theo cảnh-giới Niết-bàn tịch-tịnh.  Thứ vui theo này, tuy không có tánh-cách trụy-lạc, ác-độc, nhưng theo chánh-giáo, thì cũng còn hẹp-hòi, thiếu lòng Từ-bi rộng-rãi và chưa phải đúng nghĩa “hỷ” vô-lượng tâm.  Ðức Phật còn quở đó là cái vui “khôi thân diệt trí” hay “thu tịch Niết-bàn”. 

            Chỉ có sự “vui theo” sau đây của Bồ-tát mới đúng với nghĩa tâm Hỷ vô-lượng: 

            Trong khi thật-hành phương-tiện Từ-bi để độ sinh và sau khi công-hạnh này được kết-quả, nhận thấy chúng-sinh hết khổ, hưởng vui, tâm của Bồ-tát tự-nhiên cũng vui theo.  Trong Luận Ðại-thừa Trang-nghiêm ngài Trần-Na Bồ-tát bảo rằng: “Sự vui này còn nhiều gấp bội sự vui của chúng-sinh được hưởng”.  Bồ-tát còn xác-nhận rằng: “Nếu làm chúng-sinh được vui, tức là là cho tất cả chư Phật vui-mừng”.  Ðó là lời nói của đức Phổ-Hiền. 

            Nên nhớ cái “Hỷ” của Bồ-tát có những đặc-điểm sau đây: 

            -  Chẳng những không làm cho chúng-sinh mê lầm thêm, mà còn giác-ngộ cái mê và được giải-thoát. 

            -  Không còn bị cuộc trong vòng vui tự-đắc làm tăng-trưởng ngã-mạn, chấp trước ở thế-gian, mà trái lại, làm cho chúng-sinh xuất-thế. 

            -  Thoát ra khỏi phạm-vi tự-lợi mà phổ-biến và bình-đẳng đối với tất cả chúng-sinh.  Tóm lại, sự vui ở đây bắt nguồn ở lòng Từ-bi mà phát ra.  Lòng Từ-bi rộng lớn bao nhiêu thì cái “hỷ” này cũng rộng lớn như thế. 

            Chúng ta là Phật-tử, tu hạnh Bồ-tát, chúng ta phải tập cho được cái vui trong sạch, giải-thoát của các vị Bồ-tát, chứ đừng quay cuồng theo cái vui nhiễm-ô, ích-kỷ, hẹp-hòi của phàm-phu hay hàng Nhị-thừa. 

            4.  Xả vô-lượng. 

            Xả là gì?  -  Xả là bỏ, là không chấp không kể. 

            Thói thường, khi chúng ta làm điều gì, nhất là khi được kết-quả tốt, thì hay tự-hào, đắc-chí đôi khi ngạo-nghể khó chịu.  Sự bất bình, cãi vả xung-đột giữa bạn-bè thân-thuộc hay giữa nhóm này và nhóm khác cũng do tánh chấp trước, tự cho là quan-trọng ấy.  Nguyên-nhân của tánh này là do sự chấp-ngã, chấp phá mà ra. 

            Phàm-phu thì vừa thấy có mình làm (chấp ngã) vừa thấy có công việc kết-quả mình đạt được (chấp pháp) nên cứ bị trói buộc trong cái giới-hạn phân chia nhân ngã, bỉ thử và do đó, không bao giờ thoát được cảnh-giới phàm-phu. 

            Còn hàng Nhị-thừa tuy đã xả được chấp ngã, nhưng chưa xả được chấp pháp.  Sau khi nhờ tu tập, các Ngài thoát-ly được tam-giới, chứng được quả Hữu-dư-y Niết-bàn, các Ngài coi như đó là phần thưởng xứng-đáng của bao công-phu tu-tập và yên trí nơi cảnh-giới sở-đắc ấy.  Do đó, hàng Nhị-thừa vẫn còn bị biến-dịch sanh-tử. 

            Chỉ có các vị Bồ-tát là những bậc chứng được pháp-không, nên đã ly khai quan-niệm pháp-chấp.  Khi các Ngài ra công cứu khổ cho chúng-sinh, thì đó là một sự cảm-ứng tự-nhiên, giữa các Ngài với chúng-sinh, các Ngài dùng trí hoàn-toàn vô phân-biệt để được bình-đẳng, phổ-biến theo đồng-thể đại-bi. 

            Chúng-sinh có hưởng được vui chăng, Bồ-tát không thấy mình là kẻ ân-nhân chủ-động.  Trái lại, các Ngài còn thấy chúng-sinh là ân-nhân của mình trên bước đường lợi-tha, tiến đến công-hạnh viên-mãn.  Bởi thế, lòng Từ, lòng Bi của Bồ-tát thoát khỏi vòng ái-kiến và trụ trước, tức là xả vậy.  Ðến như lòng “Hỷ” cũng thế, Bồ-tát vui vì lòng Từ-bi, thấy chúng-sinh được vui chớ không phải lối vui tự-đắc, vui vì thành-thật tán-thán công đức chung cùng của chư Phật, chư Bồ-tát và chúng-sinh, chứ không phải vui vì đắm mến riêng tư.  Cho nên tâm tùy-hỷ đây cũng hoàn-toàn giải-thoát, nghĩa là cũng thanh-tịnh trên tinh-thần “Xả”. 

            Như vậy, Xả là một tâm lượng quảng-đại cao-cả.  Ở đó, không kiến lập một tướng nào.  Kẻ gần, người xa đều bình-đẳng, kẻ trí, kẻ trí người ngu vẫn như nhau, mình và người không khác; làm tất cả mà thấy như không làm gì cả; nói mà không thấy mình có nói gì cả, chứng mà không thấy mình có chứng và quả chứng được.  Cho nên trong kinh Tứ-thập-nhị chương có chép: “Niệm mà không chấp nơi niệm mới là niệm, hành mà không chấp nơi hành mới là hành, nói mà không chấp nơi nói mới là nói, tu mà không chấp nơi tu mới là tu.  Lý-hội nghĩa ấy là gần đạo, mê-mờ không rõ là xa đạo”. 

            Làm được như thế tức là Xả.  Xả hết tất cả mới thật là Bồ-tát.  Nếu còn chấp một tướng gì, dù nhỏ-nhặt bao nhiêu cũng chưa phải là Bồ-tát.  Hãy nghe Phật dạy ông Tu-Bồ-Ðề trong kinh Kim-cang:  “Này ông Tu-Bồ-Ðề, nếu có vị Bồ-tát còn tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng-sinh, tướng thọ giả, tức chẳng phải là Bồ-tát”. 

            Ý-nghĩa chữ Xả đã rõ-ràng.  Bây giờ chúng ta chỉ còn cố-gắng tu-tập dần dần cho được cái tâm Xả ấy.  Thành-tựu được cái Xả một cách hoàn-toàn, cái Xả vô-lượng, tức là chứng quả Bồ-đề. 

III.  SỰ ÐỐI-TRỊ CỦA BỐN MÓN TÂM VÔ-LƯỢNG

             Bốn món tâm vô-lượng là bốn trạng-thái của Tâm Bồ-tát, nhưng đó cũng là bốn pháp tu của những Phật-tử tu hạnh Bồ-tát.

            Trong mỗi con người đều có hai xu-hướng: xu-hướng thiện và xu-hướng ác.  Hai xu-hướng này cứ xung-đột nhau luôn: hễ thiện thắng thì ác lùi, hễ ác thắng thì thiện lùi. 

            -  Khi lòng Giận hừng-hẩy, thì tâm Bi bị lấn-át. 

            -  Khi lòng Sân bừng-dậy, thì tâm Từ bị che khuất.

            -  Khi Ưu-não dẫy đầy, thì tâm Hỷ không phát-hiện.

            -  Khi lòng Ái-dục còn nặng-nề, thì tâm Xả không sanh.

             Trái lại,  

-  Khi tâm Bi lớn mạnh, thì lòng Hận phải yếu mòn.

            -  Khi tâm Từ lan rộng, thì lòng Sân phải lùi.

            -  Khi tâm Hỷ bừng lên, thì lòng Ưu-não phải dẹp xuống.

            -  Khi tâm Xả phát-triển, thì lòng Ái-dục nhẹ đi.

             Sự chiến-đấu với phiền-não cũng như sự chiến-đấu với giặc cướp, phải tiếp-tục mãi cho đến khi toàn thắng mới dừng nghỉ.  Nếu chúng ta mới chiến-thắng vài ba trận đã vội thỏa-mãn và dừng-nghỉ, thì giặc cướp sẽ tái phát và hoành-hành trở lại.

             Cũng thế, trong trận chiến-đấu của Từ, Bi, Hỷ, Xả chống Sân, Hận, Ưu, Dục chúng ta phải tiếp tục thi-hành cho đến khi toàn thắng, nghĩa là bành-trướng các đức Từ, Bi, Hỷ, Xả, cho đến vô cùng vô tận, để Sân, Hận, Ưu, Dục hoàn-toàn bị tiêu-diệt mới thôi.  Một khi bóng tối đang còn, là vì ánh sáng chưa mạnh, muốn bóng tối hoàn-toàn tiêu-tan, thì ánh-sáng phải đủ sức chiếu soi cùng khắp.  Khi Từ-bi, Hỷ-xả, đã trở thành vô-lượng thì phiền-não sẽ không còn và hành-giả đạt đến quả-vị Bồ-tát.  Ðó là ý-nghĩa “phiền-não tức Bồ-đề” mà ngài Bồ-tát Trần-Na đã dạy trong Luận Ðại-thừa Trang-nghiêm. 

C.  KẾT-LUẬN: 

            Chúng ta thường nghe quen tai và nói quen miệng bốn tiếng “từ-bi, hỷ-xả”.  Nhưng chính vì “quen” quá mà chúng ta không để ý phân-tách ý-nghĩa sâu-xa của nó.  Bốn đức-tính ấy có một sự tương-quan mật-thiết và bổ-túc cho nhau, thiếu một không được: 

            -  Vì thấy chúng-sinh vô cùng khổ-sở, nên thương-xót chúng-sinh.  Vì thương-xót chúng-sinh nên ra tay cứu chúng-sinh khỏi khổ (Bi).  Cứu chúng-sinh khỏi khổ cũng chưa phải làm xong nhiệm-vụ của tình thương, nên cần phải tiếp-tục làm cho chúng-sinh được vui (Từ).  Khi chúng-sinh hết khổ được vui, mình mới vui được (Hỷ).  Nhưng nếu cái vui này mà còn vướng ngã-mạn, tự-đắc vì tự cho mình đã thành-tựu những công-hạnh lớn-lao, thì cái vui ấy trở thành ái-dục, dơ-bẩn nặng-nề, kéo hành-giả xuống hàng phàm-phu.  Vậy cái vui ấy cần phải là một thứ vui trong sạch, hoàn-toàn xa-lìa các thứ chấp-trước như nhân, ngã, bỉ, thử, chúng-sinh, Bồ-tát…(Xả). 

            Ðó là về phần phẩm, còn nói về phần lượng, thì bốn đức-tánh này cần phải rộng lớn vô cùng, hay nói theo danh-từ thường dùng, là phải vô-lượng.  Có vô-lượng mới đủ sức cứu-độ chúng-sinh cũng nhiều vô-lượng.  Có vô-lượng mới lấn át tất cả những phiền-não và không cho chúng có đất sống để tái phát và nhiễu loạn. 

            Ðó là hành-tướng và ý-nghĩa của bốn món Tâm vô-lượng, hay của bốn đức: Ðại-từ, Ðại-bi, Ðại-hỷ, Ðại-xả, mà chúng ta thường tán-thán mỗi khi niệm các danh-hiệu Bồ-tát hay Phật. 

            Phải công-nhận rằng có được bốn món Tâm vô-lượng không phải là dễ, mặc dù bốn đức ấy đã nằm sẵn trong bản-tánh thanh-tịnh của chúng-sinh.  Nhưng cũng đừng thấy khó mà vội chùn chân, lùi bước.  Có công việc gì được thành-công lớn-lao, rực-rỡ mà dễ-dàng đâu ? 

            Yếu-tố quan-trọng giúp cho sự thành-công là sự quyết tâm và lòng kiên-nhẫn.  Người tu-hành cũng như kẻ trèo núi.  Ðừng thấy núi cao mà nản chí, sờn lòng.  Trước tiên phải lập chí quyết trèo lên cho đến chóp núi, rồi sau đó cứ tuần-tự kiên-nhẫn bước từng bước một, đừng hấp-tấp cũng đừng trễ-nải thì một ngày kia thế nào cũng đặt chân lên được chóp núi cao. 

            Người tu-hành cũng vậy, hãy phát bốn lời thệ-nguyện lớn, rồi cứ tuần-tự, kiên-nhẫn mà tu tập theo những pháp-môn Phật đã chế cho đến khi thành-tựu mới thôi. 

            Cầu mong quí vị Phật-tử đều phát tâm dõng-mãnh tu bốn món Tâm vô-lượng.


Trang Chủ | Lịch Sinh Hoạt | Hình Ảnh | Âm Nhạc | Trắc Nghiệm |  Xem Phim | Liên Kết |  Liên Hệ
Liên hệ kimcangtuvien@yahoo.com
4771 Browns Mill Road Lithonia Georgia 30038-2604 Tel:(770) 322-0712